Đỉnh NGUYỄN

life's a journey not a destination


Leave a comment

Cách phát âm tiếng Nhật


Nếu các bạn bắt đầu học tiếng Nhật, chắc chắn bạn sẽ học bảng chữ cái Hiragana đầu tiên, mà bắt đầu là “a i u e o”, sau đó sẽ là “ka ki ku ke ko”. Hôm nay tôi sẽ bàn với các bạn về phát âm tiếng Nhật. Tất nhiên là để phát âm chuẩn nhất thì bạn vẫn nên nghe người Nhật phát âm chuẩn để học, ở đây tôi chỉ nêu nguyên lý về phát âm tiếng Nhật mà thôi.

Các bạn cũng nên tham khảo bài “
Thanh điệu tiếng Nhật” để hiểu thanh điệu, nhịp điệu, cách phát âm âm dài và âm ngắn trong tiếng Nhật.

Giới thiệu sơ lược các âm tiếng Nhật

Các âm tiếng Nhật gồm các hàng sau: Hàng “A” (gồm: A, I, U, E, O), hàng “KA”, hàng “SA”, hàng “TA”, hàng “NA”, hàng “HA”, hàng “MA” (mọi người vẫn nhớ theo dạng: Khi Sai Ta Nên Hỏi Mẹ), tiếp theo là hàng “RA”, hàng “W” (gồm WA và WO), hàng “YA YU YO”.

Ngoài ra là các âm đục:

  • Hàng “GA” là âm đục của hàng “KA”
  • Hàng “ZA” là âm đục của hàng “SA”
  • Hàng “DA” là âm đục của hàng “TA”
  • Hàng “BA” là âm đục của hàng “HA”
  • Hàng “PA” là từ hàng “HA”

Âm đục thì thường viết giống âm thanh kèm thêm dấu nháy, ví dụ: か => が, riêng hàng “PA” thì là dấu tròn: ぱ.
Từ khóa: Âm đục = 濁音 daku-on (kanji: đục âm), Âm trong = 清音 sei-on (kanji: thanh âm)

Tiếp theo là các âm ghép: Các bạn có thể xem bảng.

Bảng hiragana chụp từ wikipedia. Nguồn: Wikipedia Tiếng Việt

Phát âm và cách ghi romaji

“A I U E O” (あいうえお) là câu đầu tiên mà học sinh Nhật phải “ê a” khi vào lớp một.

  • A: Giống “A” tiếng Việt
  • I: Giống “I” tiếng Việt
  • U: Giống “Ư” tiếng Việt. Chú ý là không giống “U” trong tiếng Việt nhé.
  • E: Giống “Ê” tiếng Việt. Chú ý là không phải là “E” tiếng Việt.
  • O: Giống “Ô” tiếng Việt. Không giống “O” tiếng Việt.

Nhưng khi đọc cả cụm “あいうえお” thì do tiếng Nhật có thanh điệu nên không đọc là “a i ư ê ô” mà sẽ đọc là “à i ư ề ộ” nhé. Tương tự vậy, hàng KA “かきくけこ” sẽ đọc là “cà ki cư kề cộ” trong tiếng Việt. Nhớ là phát âm nhẹ nhàng thôi (giọng thành phố nhẹ nhàng là ổn).
Đó là phát âm nguyên âm, còn dưới đây là phát âm phụ âm:

  • Hàng “ka” (かきくけこ): Phát âm như “ca ki cư kê cô” tiếng Việt.
  • Hàng “sa” (さしすせそ): Như “sa shi sư sê sô”. Riêng “shi し” bạn không phát âm như “si” của tiếng Việt (chỉ có đầu lưỡi chạm kẽ hai hàm răng) mà phải phát âm nhiều âm gió là “shi” (áp cả lưỡi lên thành trên của miệng để tạo khe hẹp nhằm tạo ra âm gió). Tóm lại hàng này có âm “shi” là bạn phải chú ý phát âm sao cho nhiều âm gió nhất có thể. Bạn cứ tưởng tượng như phát âm “ch’si” vậy.
  • Hàng “ta” (たちつてと = ta chi tsu te to): “ta te to” thì phát âm như “TA TÊ TÔ” tiếng Việt. “chi” thì như “CHI”. Riêng “tsu” thì phát âm gần như “chư” tiếng Việt nhưng hơi khác chút: Trong khi “chư” phát âm sẽ áp lưỡi lên thành trên miệng thì “tsu” chỉ chạm đầu lưỡi vào kẽ hai hàm răng để tạo âm gió ngắn và dứt khoát. Có thể tưởng tượng giống như khi phát âm “ch’xư” trong tiếng Việt vậy. Các âm “TA TE TO” thì một số người Nhật sẽ phát âm thành lai giữa “TA” với “THA”. Bạn nên phát âm “TA” rõ ràng dứt khoát hơn trong tiếng Việt bằng cách đặt đầu lưỡi vào kẽ hai hàm răng và phát âm dứt khoát.
  • Hàng “na” (なにぬねの): Không có gì đặc biệt, phát âm là “na ni nư nê nô”.
  • Hàng “ma” (まみむめも): Cũng không có gì đặc biệt => “ma mi mư mê mô”.
  • Hàng “ra” (らりるれろ): Phát âm như “ra ri rư rê rô” nhưng nhẹ nhàng hơn, giống như lai giữa “ra” và “la” vậy. Nếu bạn phát âm “ra” theo kiểu tiếng Việt thì người Nhật nghe sẽ không hiểu. Còn nếu bạn phát âm là “la” thì người Nhật luôn hiểu. Bạn phải học cách phát âm nhẹ nhàng lai giữa “ra” và “la”. Các ca sỹ Nhật Bản khi hát sẽ phát âm là “la” cho điệu đàng.
  • Hàng “wa wo” (わを): Phát âm như “OA” và “Ô”. Mặc dù “wo を” phát âm giống “o お” nhưng khi viết romaji vẫn viết là “wo” (không phát âm là “ua” đâu nhé).
  • Hàng “ya yu yo”: Phát âm là “ya” (ia), “yu” (iu), “yô” (iô). Chú ý là phát âm “y” rõ và liền với âm sau chứ không phát âm thành “da”, “du”, “dô” hay “gia”, “giu”, “giô” nhé. Nếu bạn phát âm như vậy người Nhật sẽ nghe nhầm thành ざ, じゃ, v.v…. => Nên phát âm rõ ràng không nên cẩu thả.


Các âm đục

  • Hàng “ga” (がぎぐげご): Như “ga ghi gư gê gô” tuy nhiên một số người già sẽ phát âm lai sang “ng” thành ra “nga nghi ngư nghê ngô” => Nên phát âm là “ga ghi gư gê gô” cho nó mạnh mẽ! (Người già thường phát âm yếu và nhẹ nhàng nên nghe ra lai giữa “ga” và “nga”)
  • Hàng “za” (ざじずぜぞ): Như “za ji zư zê zô”, “ji” phát âm với âm gió (không phải “di” Việt Nam mà áp lưỡi lên thành trên của miệng để tạo âm gió). じ và ぢ (hàng “đa”) phát âm giống nhau. ず và づ phát âm giống nhau.
  • Hàng “đa” (だぢづでど): Giống “đa, ji, zư, đê, đô” (“ji” phát âm có âm gió). Để gõ ぢづ bạn gõ “di”, “du”. Nhiều khi bạn nghe người ta nói “ĐA” lại ra “TA” đó, hay mình nói với người Nhật là “Đa” họ lại nghe ra “Ta” vì tiếng Nhật hai âm này khá gần nhau.
  • Hàng “ba” (ばびぶべぼ): Giống “ba bi bư bê bô”
  • Hàng “pa” (ぱぴぷぺぽ): Giống “pa pi pư pê pô”


Phát âm trợ từ
Trợ từ は (đứng sau chủ đề và trước hành động) và へ (đi tới đâu, tới đâu) sẽ không phát âm là “ha” và “hê” như thông thường mà sẽ là “wa” (đọc: OA) và “e” (đọc: Ê) giống như わ và え.

Trợ từ を (đứng sau để chỉ đối tượng bị tác động) dù viết romaji là “wo” nhưng không đọc “ua” mà đọc là “Ô” giống như お.
Ví dụ chữ “Xin chào” Konnichiwa thực ra phải viết là 今日は (こんにちは) chứ không phải là こんにちわ như nhiều người Nhật vẫn viết sai (tất nhiên viết sai là わ thì bạn sẽ không chuyển được thành kanji!). Chào buổi tối “Kombanwa” cũng vậy, phải là こんばんは chứ không phải こんばんわ.

母は花を買った(はははなをかった) => Ha-ha oa
 ha-na ô cát ta.

Các âm ghép
Các âm ghép dưới đây:

  • きゃ kya きゅ kyu きょ kyo
  • にゃ nya にゅ nyu にょ nyo
  • ひゃ hya ひゅ hyu ひょ hyo
  • みゃ mya みゅ myu みょ myo
  • りゃ rya りゅ ryu りょ ryo

Và các âm đục:

  • ぎゃ gya ぎゅ gyu ぎょ gyo
  • びゃ bya びゅ byu びょ byo
  • ぴゃ pya ぴゅ pyu ぴょ pyo

thì đọc đúng như cách ký âm romaji. Ví dụ “myo” đọc là “myô” hay “miô” như tiếng Việt nhưng liền với nhau.

Các âm gió dưới đây thì sẽ đọc hơi khác:

  • しゃ sha しゅ shu しょ sho: Đọc như “sha”, “shu” (không phải “shư” nhé), “shô” có âm gió, tức là áp lưỡi lên thành trên của miệng để đọc âm lai giữa (sha + shi’a)/2, (shu + shi’u)/2, (shô + shi’ô)/2.
  • ちゃ cha ちゅ chu ちょ cho: Đọc như “cha”, “chu”, “chô” nhưng với âm gió như trên.

Âm đục:

  • じゃ ja じゅ ju じょ jo: Đọc như “ja” (gia), “ju” (giu), “jô” (giô) nhưng với âm gió như trên, ví dụ “jô” sẽ đọc lai giữa “giô” + “gi’ô”.
  • ぢゃ (ja) ぢゅ (ju) ぢょ (jo): Không dùng mấy, thường dùng “じゃ ja じゅ ju じょ jo” thay thế và cách đọc cũng giống.

Các âm gió này cũng có thể viết theo dạng:

ja => zya, cha => cya, sha => sya, ju = zyu, v.v…

nhưng mình không khuyến khích cách viết và cách gõ này lắm vì không phản ánh chính xác cach đọc.

Cách đọc âm “n”
Âm “n” (ん) đứng cuối âm khác để tạo thành âm “n”, ví dụ たん => “tan”. Đọc giống như âm “n” của tiếng Việt. Tuy nhiên, nếu đứng trước âm tiếp theo là hàng “M”, “B”, hay “P” thì phải đọc thành “M” dù vẫn viết là “ん”.

Ví dụ:

  • さんま sanma (cá thu đao) => Không đọc “san ma” mà là “sam ma”, khi viết cũng nên viết thành “samma” cho đúng cách đọc
  • 日本橋 nihonbashi (cầu Nhật Bản) => Đọc là “ni hôm bà shi” thay vì “ni hôn bà shi”; Khi viết romaji nên viết là “nihombashi”
  • 散歩 sanpo (tản bộ, đi dạo) => Đọc là “sam pô”, viết romaji nên viết là “sampo”

Nếu âm “ん” đứng riêng và đọc như đọc một chữ cái thì đọc là “un” hay tiếng Việt là “ưn/ưng”. Thường các ca sỹ khi hát thì sẽ đọc rõ từng chữ cái, ví dụ “たん” (tan) sẽ hát thành “ta ưn”. Để gõ “ん” thì bạn gõ 2 lần chữ “n”, tức là “n + n”. Hoặc bạn gõ “n” rồi gõ tiếp phụ âm tiếp theo nó sẽ tự thành “ん”.

Cách đọc âm lặp (“tsu” nhỏ)
Âm lặp là sự lặp lại phụ âm tiếp theo chữ “tsu” nhỏ (“tsu” nhỏ dùng để ký hiệu âm lặp).

“tsu” nhỏ: っ; “tsu” bình thường: つ

Ví dụ: 切手 = きって = kitte = con tem; để viết âm lặp này chỉ cần gõ 2 lần phụ âm tiếp theo, ví dụ “kitte” sẽ gõ là “K + I + T + T+ E”, “発生 = はっせい = hassei” sẽ gõ là “h a s s e i”.
Âm lặp này bạn phải ngắt ở vị trí của “tsu” nhỏ, nó giống như khoảng lặng của dấu nặng trong tiếng Việt vậy. Do đó ví dụ về cách phát âm là như sau:

  • 切手 = きって = kitte (Tem): Phát âm là “kịt tê” thay vì “kít tê” nếu không người Nhật sẽ không hiểu
  • 発生 = はっせい = hassei (Phát sinh): Phát âm là “hạt sê” thay vì “hát sê”
  • 日光 = にっこう = nikkou (Nhật Quang): Phát âm “nịch cô” thay vì “ních cô”

=> Mấu chốt: Khoảng lặng giống dấu nặng tiếng Việt.
Ghi chú: Nếu phát âm “kít tê” hay “hát sê” thì có thể người Nhật sẽ nghe nhầm thành “きて” hay “はせい”.

Cách đọc âm dài – âm ngắn
Âm ngắn “~e” có âm dài là “~ei”, ví dụ せ => せい.
Âm ngắn “~o” có âm dài là “~ou”, ví dụ ちょ => ちょう, そ => そう.
Cách đọc:

  • Mặc dù viết “~ei” nhưng đọc là “~ê” thay vì “ê-i” hay “ây”.
  • Dù viết “~ou” nhưng đọc là “~ô” thay vì “ô-ư”.

Ví dụ 先生 = せんせい = sensei đọc là “sen sê” (chứ không phải “sen sây“).
延長 = えんちょう = enchou (kéo dài) đọc là “en chồ” chứ không phải “en châu“.
Hay chữ cái tiếng Anh “A” nếu bạn đọc là “ây” như tiếng Việt thì người Nhật sẽ nghe ra là “I” (ai). Bạn phải đọc là “ê”.
Phát âm có trọng âm:
Âm dài và âm ngắn nếu đi với nhau sẽ phải nói có trọng âm để phân biệt. Bạn nên tham khảo bài “Thanh điệu tiếng Nhật” để rõ hơn, ở đây tôi nêu vài quy tắc:

  • 住所 = じゅうしょ = juusho (địa chỉ, kanji: trụ sở): Âm dài “juu” đi với âm ngắn “sho” đọc như là “JÚ shồ” với trọng âm ở “JU”.
  • 授業 = じゅぎょう = jugyou (tiết học, kanji: thụ nghiệp): Âm ngắn “ju” đi với âm dài “gyou” đọc như là “jụ gyô” với âm “ju” như có dấu nặng tiếng Việt (“jụ gyô” hay “jù gyô”).
  • ラーメン = raamen (mỳ Nhật, mỳ ramen): Âm “raa” dài nên đọc là “RÁ mèn” với trọng âm ở “raa”.


Một số cách đọc: hito, gakusei
Nhiều người đọc “hito” (人 = người) thành “khi tô” thay vì “hi tô”, đọc “gakusei (学生 = がくせい = học sinh)” thành “gạc sê” thay vì “ga cư sê”. Thực tế đây là các cách đọc đã thông dụng (“khi tô” và “gạc sê”) nên nếu chúng ta đọc khác đi thì sẽ ít người hiểu.

Hay là “Takahashi-san desu ka” thì đọc là “Ta-ca-hà-shi-sàn đẹtx ca/ (lên giọng)”, tức là không đọc rõ âm “su” nhé (tất nhiên là một số người già và một số vùng đọc nặng có thể sẽ đọc rõ “xư”). Nghĩa là người Nhật đọc nhiều khi cũng không hẳn như chữ Việt mà bạn chỉ cần nghe và bắt chước.
Nhiều người đọc không rõ ràng cũng đọc âm “tsu” (ch’ư) thành âm “su” (xư) ví dụ như 理屈 = りくつ = rikutsu (lý luận) thành “ri-kư xư” thay vì đúng là “ri-kư ch’ư”.

Nguồn: SAROMA JCLASS (saromalang.com)

Xem bài gốc.

Advertisements


Leave a comment

Bàn phím tiếng Nhật và gõ tiếng Nhật


Chắc các bạn gõ tiếng Nhật thì cũng đều biết đến “henkan” (変換, kanji: biến hoán), tức là “chuyển đổi chữ” bởi vì đầu tiên bạn phải gõ được hiragana đã, rồi sau đó mới chuyển sang kanji tương ứng. Mà gõ hiragana cũng có nhiều cách gõ:

  • Cách gõ thông thường: Phím “k” + phím “a” => “ka” = か
  • Cách gõ kana: Ví dụ phím “a” => ち chi, phím “s” => と to


Ngày xưa, người ta dùng máy gõ chữ thì có lẽ chỉ gõ kiểu kana mà thôi. Ngày nay thì mình thường xài kiểu gõ thông thường. Bạn có thể lo lắng là gõ kana thì sao biết phím nào với phím nào, nhưng bạn đừng lo, vì bàn phím của Nhật bao giờ cũng in cả cách gõ kana lên mặt phím.

Bàn phím tiếng Nhật – Japanese Keyboard

Các bạn hãy xem hình dưới đây để biết cách bài trí bàn phím tiếng Nhật. Nó khác bàn phím tiếng Anh mà chúng ta dùng đôi chút.

Giao diện bàn phím tiếng Nhật (Japanese Keyboard Layout)
Bán phím máy Sony Vaio

Tôi sẽ nêu các điểm nổi bật của bàn phím tiếng Nhật:

Các phím chuyên dụng

Bạn có thể thấy các phim đặc biệt sau:
  • Phím 半角/全角 (hẹp / rộng): Đây là phím cực kỳ quan trọng, vì bạn chỉ cần ấn phím này là chuyển thẳng sang gõ chế độ Hiragana ngay, bấm lần nữa thì quay lại gõ Romaji như thường. “半角” thì có lẽ bạn ấn kèm phím Shift là chuyển sang gõ Hiragana với độ rộng hẹp.
  • Các phím khác: 無変換 (muhenkan = không chuyển đổi), カタカナ/ひらがな: Chuyển đổi giữa katakana và hiragana
Cách sắp xếp các phím khác bàn phím tiếng Anh
Ví dụ @ ở bàn phím tiếng Anh nằm trên phím “2” còn ở bàn phím tiếng Nhật là một phím riêng. Các ký hiệu cũng ở vị trí khác so với bàn phím tiếng Anh.
Bề rộng hẹp và bề rộng toàn phần
Bề rộng hẹp 半角 hankaku (bán giác) là chữ chỉ chiếm nửa không gian thường, còn bề rộng toàn phần 全角 zenkaku (toàn giác) là chữ chiếm toàn bộ không gian. Chế độ bề rộng hẹp này chỉ áp dụng với Katakana mà không áp dụng với Hiragana. Dưới đây tôi đưa ra ví dụ minh họa:
  • 半角:アイウエオ
  • 全角:アイウエオ
Cách chuyển đổi thì đơn giản: Bạn gõ chữ Hiragana rồi ấn F7 là ra Katakana độ rộng toàn phần, ấn F8 là ra Katakana độ rộng hẹp.
  • あいうえお + F7 = アイウエオ
  • あいうえお + F8 = アイウエオ

Bàn phím tiếng Anh thì chuyển từ gõ Romaji sang gõ Hiragana thế nào?

Chắc các bạn cũng cảm thấy phiền phức khi mỗi lần chuyển qua chuyển lại giữa chế độ gõ Romaji (biểu tượng chữ A trên thanh công cụ tiếng Nhật) và chế độ gõ Hiragana (biểu tượng chữ あ) là lại phải dùng chuột để chọn rất mất thời gian và công sức.
Tôi cũng vậy, và tôi vừa phát hiện ra cách mới tương tự nút chuyển đổi ở bàn phím tiếng Nhật:
shift + caps lock
Tôi nói là vừa phát hiện ra vì tôi thường xài máy Nhật, giờ mới xài máy tiếng Anh nên mới mày mò ra. Các bạn hãy dùng cách trên chuyển cho nhanh lẹ nhé.
Với bàn phím tiếng Anh, chuyển sang Katakana vẫn là F7 (hay F8 cho chữ hẹp) không có gì thay đổi.
Chú ý: Bạn cũng có thể chuyển bằng

 alt + `
 (alt + ~)

thay vì “shift + caps lock” như trên.

Để gõ tiếng Nhật: Bộ gõ tiếng Nhật (Japanese IME)

Để gõ tiếng Nhật thì bạn cần một bộ gõ tiếng Nhật (Japanese IME = Japanese Input Method Editor) cũng như khi bạn gõ tiếng Việt cần phần mềm vậy. Đó là phần mềm giúp bạn gõ và chuyển đổi chữ tiếng Nhật. Trong Windows bạn có thể dùng IME có sẵn của Windows (Trong Windows 7 thì có sẵn nhưng Windows XP thì bạn cần cài từ đĩa Windows). Dưới đây là tôi hướng dẫn cho Windows 7 hay Vista.
Bạn chỉ cần vào phần “Text Services and Input Languages” (từ Control Panel của Windows) và chọn “Add…” để thêm IME tiếng Nhật, bạn nên chọn “Microsoft IME”

Thêm ngôn ngữ “Japanese” và bộ gõ “Microsoft IME” cho tiếng Nhật
Sau khi thêm thì các bàn phím (tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Anh, v.v…) trên máy bạn sẽ hiện ở thanh ngôn ngữ (thường ở góc phải bên dưới màn hình nhưng bạn có thể di chuyển thanh này được). Hình ảnh như sau:
Các bàn phím hiện lên khi ấn vào nút “JP”
Bạn có thể chuyển đổi giữa các bàn phím này bằng tổ hợp phím nhanh (shortcut) dưới đây:
alt + shift
(Ấn và giữ phím “alt” rồi ấn thêm phím “shift”)
Khi ở bàn phím tiếng Nhật (JP) thì chữ “A” (hay chữ hiragana “あ”) là chỉ chế độ gõ tiếng Nhật:
Các chế độ gõ tiếng Nhật
Danh sách các kiểu gõ tiếng Nhật:
  • ひらがな(H):Gõ Hiragana, ví dụ: かきくけこ
  • 全角カタカナ(K):Gõ Katakana bề rộng toàn phần: カキクケコ
  • 全角英数(L):Gõ chữ Romaji bề rộng toàn phần: English
  • 半角カタカナ(A):Gõ chữ Katakana hẹp: カキクケコ
  • 半角英数(P):Gõ chữ Romaji (La tinh) thông thường
  • キャンセル:Hủy bỏ (Cancel), tức là không thay đổi kiểu gõ

Ở trên 英数 (eisuu) tức là gõ tiếng Anh và các con số, đối lập với kiểu gõ Hiragana hay Katakana. Nói chung thì cũng không nhất thiết phải chọn gõ Katakana vì bạn cứ gõ Hiragana nếu đúng chữ thì nó tự chuyển qua, hoặc là bạn gõ F7 là sẽ chuyển qua Katakana được.

Chế độ chuyển chữ (変換モード henkan moodo)
Bạn nên chọn là thông thường:

Các chế độ chuyển chữ tiếng Nhật:

  • 一般(G): Thông thường (ippan)
  • 人名/地名(N): Tên người, địa danh (jinmei / chimei)
  • 話し言葉優先(S): Ưu tiên ngôn ngữ nói chuyện (hanashi-kotoba yuusen)
  • 無変換(O): Không chuyển đổi (muhenkan, kanji: vô biến hoán)
  • キャンセル:Hủy bỏ (Cancel)

Thông thường thì tên người dùng kanji không phổ biến hay cách đọc không giống chuyển đổi từ vựng thông thường nên bạn có thể dùng cách này để gõ tên người (để tìm được nhiều tên hơn) nhưng không cần thiết nếu tên bạn chuyển là thông dụng.

Cách chuyển chữ tiếng Nhật

Bạn chỉ cần gõ chữ Hiragana, ví dụ “なまけもの” rồi ấn phím Cách (Space) là bộ gõ tự chuyển từ thích hợp nhất cho bạn, bạn ấn Space lần nữa là bộ gõ hiện một danh sách để bạn chọn (có cả lựa chọn Hiragana và Katakana), để hủy chuyển đổi bạn có thể ấn ESC.

Chuyển chữ “ume”

Để chuyển sang Katakana: Ấn F7
Bạn cũng có thể gõ cả câu rồi chuyển.

Nếu bạn muốn gõ chữ kanji đơn

Giả sử bạn muốn gõ chữ Phương Mai chẳng hạn, thì cách gõ là dưới đây:
Chữ Mai có thể gõ là ume: 梅, chỉ cần gõ rồi chuyển là được. Còn chữ Phương bạn có thể gõ chữ kép có sẵn là “houkou” và chuyển thành “芳香” (không phải 方向 nhé), xóa chữ 香 đi là được. Bạn cũng có thể gõ chữ “ほう” rồi dùng chuyển chữ để tìm nhưng chắc có cả trăm chữ như vậy nên sẽ mất thời gian hơn. Nếu bạn biết chữ này có trong “kanbashii” (thơm ngát) thì bạn có thể gõ “かんばしい” và chuyển thành “芳しい”. Vốn từ vựng bạn càng nhiều thì gõ càng dễ. Tôi vẫn gõ tên “Trang” bằng “keshou” => 化粧 cho nhanh. Tuy nhiên, gõ thế thì lại phải quay lại xóa khá mất thời gian, nên tốt nhất là nên gõ thế nào để xóa chữ sau đi.
Chữ “Kiều” (đẹp) cũng vậy, bạn gõ từ ghép sẽ nhanh hơn là “きょう” rồi chuyển (vì có nhiều chữ “kyou” lắm), ví dụ gõ “あいきょう” (ái kiều = đẹp và đáng yêu) => 愛嬌.

Bộ gõ tiếng Nhật không chỉ có Microsoft IME

Khi bạn cài MS Office thì Office sẽ có Office IME để gõ tiếng Nhật. Ngoài ra bạn cũng có thể dùng thử Google Japanese IME:

Tôi cũng chưa dùng thử nhưng có lẽ là tốt.

Có thể gõ rất nhiều ký tự với bộ gõ tiếng Nhật

Thực tế là hầu hết mọi ký tự đều có thể gõ được nếu bạn biết cách.

  • ※:こめ (gạo)
  • ±:ぷらすまいなす (cộng trừ)
  • ⇒ → ← ↑ ↓:やじるし (mũi tên)
  • α:あるふぁ (arufa) – chữ Hy Lạp
  • Ω:おめが (omega) – chữ Hy Lạp
  • ● ○ ◎:まる (tròn)
  • △ ▲ ▽ ▼ ∵:さんかく (tam giác)
  • ■ □:しかく (tứ giác)
  • ☆ ★:ほし (ngôi sao)
  • Ш:しゃー (chữ Sha tiếng Nga)
  • ×:かける (nhân, không phải chữ “x” nhé)
  • ÷:わる (chia)
  • ℃:ど(độ)

Vẽ chữ kanji bằng IME Pad

Bạn có thể tham khảo bài viết “Tìm chữ kanji theo bộ hay theo số nét“, trong đó có giới thiệu về IME Pad để vẽ và chọn chữ kanji như hình ảnh này:

Tổng kết cách gõ tiếng Nhật cho bàn phím tiếng Anh

  • alt + shift để chuyển đổi bàn phím sang tiếng Nhật
  • alt + caps lock để chuyển đổi giữa gõ Romaji / Hiragana

Bố cục bàn phím (Keyboard Layout) là gì?

Bố cục bàn phím, hay Keyboard Layout, là cách sắp xếp các phím trên bàn phím chứ không phải là bàn phím tiếng Nhật, tiếng Anh hay tiếng Việt nói ở trên nhé.

  • Bố cục bàn phím tiếng Anh: Phím @ nằm trên phím “2”
  • Bố cục bàn phím tiếng Nhật: Phím @ nằm gần “Enter”

Nếu bạn mua máy tính Nhật với bàn phím (ở đây là bàn phím cứng) của Nhật thì bạn phải chọn Keyboard Layout là “Japanese Keyboard (106/109 key)” chứ nếu chọn “Natural Keyboard” (loại 102 phím) thì gõ ký tự sẽ sai hết. Thông thường, nếu bàn phím của bạn là tiếng Anh mà bạn cài Win tiếng Anh (hay bàn phím tiếng Nhật mà cài Windows tiếng Nhật) thì bạn không cần lăn tăn gì.
Tuy nhiên, nếu bàn phím cứng của bạn là tiếng Nhật mà bạn cài Windows tiếng Anh thì bạn sẽ thấy ký tự ký hiệu trên phím và khi gõ không khớp nhau. Bạn yên tâm là không cần cài lại Windows mà chỉ cần chỉnh sửa chút xíu như dưới đây.

Đổi bố cục bàn  phím:
Nhấp chuột phải vào “Computer” (hay My Computer trong Windows XP) chọn “Manage” => Chọn tiếp “Device Manage”, ở bên phải hiện rác thiết bị thì bạn chọn “Keyboards” và hình cây bên dưới hiện các bàn phím cứng bạn có (thường chỉ có một trừ khi bạn gắn cả bàn phím USB vào), nhấp đúp chuột lên bàn phím cứng này, cửa sổ mới sẽ hiện ra ở tab “General”.
Bên trên bạn chọn tab “Driver” rồi ấn nút “Update Driver…”. Cửa sổ mới hiện ra với 2 lựa chọn:
Search automatically….: Tự động cập nhận => Không chọn
Browse my computer for driver software: Tìm trình điều khiển (driver) trên máy tính => CHỌN
Sang cửa sổ tiếp theo: Máy sẽ cho bạn chỉ định thư mục tìm kiếm, nhưng bạn không chỉ mà chọn lựa chọn bên dưới “Let me pick from a list…” (Để tôi chọn từ danh sách trình điều khiển thiết bị trên máy).
Ở màn hình tiếp theo bạn sẽ chọn driver cho bàn phím cứng tiếng Nhật và đây là bước mà nhiều bạn bị tắc.

QUAN TRỌNG: Bỏ đánh dấu
 ở ô “Show Compatible Hardware” (Hiện phần cứng tương thích).
Khi bỏ dấu đánh dấu đi thì rất nhiều lựa chọn hiện ra, bạn chọn cái trên chùng là “(Standard Keyboards)” (Các bàn phím chuẩn). Ở bên phải hiện ra một danh sách và bạn chọn “Japanese Keyboard PS/2 (106/109 Key)” hay chọn “Japanese Keyboard PS/2 (106/109 Key Control + Eisuu)” chắc cũng được.

Mấu chốt:
Bàn phím cứng của bạn và trình điều khiển bàn phím (keyboard driver) trong Windows của bạn phải khớp với nhau!

Bàn phím tiếng Nhật trong máy Mac

Đơn giản là bạn chỉ cần thêm bàn phím tiếng Nhật vào là xong (đã có sẵn).

Cài bộ gõ tiếng Nhật cho Windows XP

Nếu bạn cài Windows XP tiếng Anh, bạn phải chọn hỗ trợ ngôn ngữ Châu Á (Asian Language Support) khi cài, nếu không thì bạn sẽ không thêm bộ gõ tiếng Nhật được. Tất nhiên, nếu bạn không cài thì bạn có thể cài sau từ đĩa cài Windows là được. Bạn sẽ vào Control Panel => Languages and Regional Settings => Chọn tab “Languages”, bên dưới đánh dấu vào “Install files for East Asian languages” (Cài các tệp tin cho các ngôn ngữ Đông Á).

Cài hỗ trợ ngôn ngữ tiếng Nhật trong Windows XP / Windows 2000

Sau đó bạn ấn phím “OK” hay “Apply”, Windows sẽ hướng dẫn bạn tiếp là để cài từ đĩa Windows thì ấn “No”, bạn cho đĩa Windows vào rồi ấn “No” và Windows sẽ cài hỗ trợ tiếng Nhật vào máy bạn. Sau đó bạn có thể thêm Japanese Keyboard như phần đầu bài viết này.
Nếu bạn chỉ muốn cài font tiếng Nhật để đọc web? Hãy xem mục Hỏi đáp dưới đây.

HỎI ĐÁP

Hỏi: Máy tôi gõ không đúng, ví dụ phím “a” thì ra ち, phím “s” thì ra と là bị làm sao?

Đáp: Bạn vô tính ấn vào nút “KANA” trên thanh ngôn ngữ. Chỉ cần ấn lại nút này lần nữa.

Hỏi: Thanh ngôn ngữ tiếng Nhật không hiện để tôi chọn gõ Hiragana hay Romaji là bị làm sao?

Đáp: Bạn phải đang ở trong trình soạn thảo văn bản nào đó, hay ô textbox, tức là chỗ có thể gõ ký tự được thì thanh ngôn ngữ mới hiện đủ. Chứ nếu bạn đang xem web (tức là nơi không gõ ký tự được) thì bạn không thể chọn kiểu gõ được. Hãy mở Notepad ra để gõ chẳng hạn.

Hỏi: Tôi không muốn cài bộ gõ tiếng Nhật nhưng muốn đọc các trang web tiếng Nhật thì phải làm sao?

Đáp: Bạn có thể tải font tiếng Nhật và cài vào máy. Cách cài có trên trang Cuộc sống Nhật Bản phần font chữ tiếng Nhật.

Hỏi: Tôi cài chương trình bằng tiếng Nhật mà bị chữ rác (mojibake) hết?

Đáp: Đây là trường hợp bạn mua máy quét của Nhật và cài phần mềm kèm theo (bằng tiếng Nhật) hay cài các phần mềm mà người Nhật viết. Bạn phải chọn ngôn ngữ hỗ trợ cho chương trình phần mềm Non-Unicode (không dùng Unicode) là “Japanese”.

Chọn “Language for non-Unicode program” là Japanese

Hỏi: Máy tính tôi bàn phím tiếng Nhật nhưng tôi cài Windows tiếng Anh nên ký tự sai hết. Tôi có phải cài lại Windows tiếng Nhật không?

Đáp: Bạn không cần cài lại, chỉ cần chọn trình điều khiển bàn phím (keyboard driver) trong Windows cho phù hợp với bàn phím cứng. Cách làm như phần “Bố cục bàn phím” trong bài viết này.

Nguồn: SAROMA JCLASS (saromalang.com)

Xem bài gốc.


3 Comments

Vì sao tiếng Nhật dùng 3 loại chữ: Kanji, Hiragana, Katakana?


Các bạn chắc đều biết tiếng Nhật sử dụng ba loại chữ là Kanji, Hiragana và Katakana. Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao lại phải dùng nhiều như vậy, sao không dùng chữ romaji (chữ la tinh) như tiếng Việt cho tiện?
Hôm nay tôi xin nói về vai trò của chữ viết và vai trò của 3 loại chữ Kanji, Hiragana, Katakana trong tiếng Nhật.

Để có thể hiểu sâu về vai trò của chữ viết các bạn có thể tìm đọc quyển “Tiếng Việt Văn Việt Người Việt” của cố giáo sư Cao Xuân Hạo.
Chữ viết không phải là thứ có vai trò chính để ghi lại phát âm, mà vai trò chính là để đọc. Đọc chữ kanji (hay chữ Hán) sẽ nắm bắt được ý nghĩa nhanh hơn nhiều so với đọc chữ la tinh. Trong các ngôn ngữ châu Âu, tiếng Anh và tiếng Pháp không phải là ngôn ngữ ký âm (ghi lại đúng cách phát âm). Một từ tiếng Anh hay tiếng Pháp nếu bạn muốn biết cách đọc bạn phải tra từ điển (Ví dụ Monica phải đọc là Mo-nơ-cờ với trọng âm là “Mo”). Thế kỷ 18 đã có phong trào đòi cải cách tiếng Anh và tiếng Pháp sao cho cách viết đúng với cách phát âm, nhưng đều thất bại. Tương tự với tiếng Trung, người ta cố cải cách bằng cách bỏ chữ tượng hình và thay vào ký âm la tinh nhưng phần lớn độc giả đọc đều không hiểu hoặc với tốc độ rất chậm.
Tiếng Việt là ngoại lệ vì phát âm tiếng Việt phong phú hơn nên ít gây hiểu lầm khi đọc hơn, tuy nhiên do không biết mặt chữ Hán nên nhiều người không giỏi tiếng Việt cũng như không biết nguồn gốc các từ trong tiếng Việt. Nếu bạn biết chữ Hán thì các bạn có thể thấy những từ như “quần”, “áo” cũng là chữ gốc hán, hay chữ “cắt” từ chữ “cát”, “thêm” là từ chữ “thiêm” (thêm vào) mà ra.


Chữ Kanji và Hiragana trong tiếng Nhật
Quay trở lại với tiếng Nhật: Tiếng Nhật ban đầu dùng chữ kanji để viết nhưng chữ kanji bộc lộ một số hạn chế, đó là trong khi tiếng Hán là tiếng đơn âm thì tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp vá phải ghép vài âm tiết mới thành một từ, và từ này khi chia quá khứ, hiện tại, tương lai thì lại khác nhau. Do đó họ phải thêm vào chữ Hiragana để tiện việc chia như vậy. Tiếng Nhật sử dụng kết hợp chữ kanji để ghi ý nghĩa và chữ Hiragana để thực hiện chức năng ngữ pháp, ví dụ với từ “ăn” sẽ có các từ sau:
食べる:Ăn
食べた:Đã ăn
食べて:Hãy ăn (sai khiến)/ <Thể liên kết>
食べている:Đang ăn
食べられる:Bị ăn
食べさせる:Bắt ăn / Cho ăn
食べさせられる:Bị bắt ăn


Bằng cách sử dụng chữ Kanji và Hiragana như trên hệ thống chữ viết tiếng Nhật vừa đơn giản, vừa dễ hiểu mà vẫn thực hiện đầy đủ chức năng ngôn ngữ của nó.

Chữ Hiragana được tạo ra thế nào?
Nếu là bạn thì bạn sẽ tạo ra chữ hiragana thế nào?
…..

Đây là cách mà người Nhật làm:
Họ lấy chữ kanji mà có âm (kun’yomi hay on’yomi) bắt đầu bằng âm mà họ muốn tạo (ví dụ “to”, “ta”, …) rồi đơn giản hóa nó đi sao cho dễ viết.
Ví dụ để tạo chữ “to” thì họ dùng chữ 止る (“tomaru”) và đơn giản hóa thành:
止(とまる) → と
Các ví dụ khác:
世(せ) → せ
天(てん)→ て
利(り)→ り
安(あん)→ あ
由(ゆ)→ ゆ
太(た)→ た
也(や)→ や

Các bạn có thể tham khảo thêm tại đây (tiếng Việt):
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hiragana
Tên gọi Hiragana (平仮名) gồm có “hira” (bình) và “gana” (giả danh, nghĩa là “tên mượn tạm”) có nghĩa là chữ mượn tạm bằng cách làm đơn giản hóa (làm bằng xuống).

Sao không sử dụng toàn bộ là chữ Hiragana cho đơn giản và đỡ phải học chữ kanji?
Lý do khá đơn giản: (1) Dùng chữ kanji giúp việc đọc hiểu trở nên cực kỳ dễ dàng, (2) Chữ Hiragana không sẽ khó đọc vì không biết từ bắt đầu và kết thúc ở đâu, (3) Chữ kanji không hề khó học.
Các bạn hãy xem 2 câu sau:

ははははなをかった。
たかがはらはなかがわらえきでさんぽしていた。

Việc phân biệt từ nào với từ nào cũng đã là việc khá khó khăn và mất thời gian. Nếu sử dụng kanji thì mọi việc trở nên đơn giản hơn rất nhiều:

母は花を買った。
高河原は中河原駅で散歩していた。


Nhưng trong ngôn ngữ nói có dùng chữ kanji đâu mà vẫn hiểu nhau?
Bởi vì ngôn ngữ nói có nhịp điệu và có sự ngắt âm phù hợp giúp người nghe có thể phân biệt rõ ràng các từ với nhau.
Ví dụ câu trên có thể ngắt như sau:

Haha wa, hana wo, katta.
Takagahara wa, Nakagawara eki de, sanpo shite ita.

Ngoài ra nhịp điệu trong ngôn ngữ nói là thứ quan trọng giúp truyền đạt điều muốn nói.

Chữ Katakana trong tiếng Nhật
Chữ Katakana (片仮名, kata (“phiến”, một phần) + tên tạm) là chữ được tạo ra bằng cách lấy một phần (kata) của chữ kanji để làm “chữ viết tạm Katakana”. Các bạn có thể xem bảng sau (thuộc trang web Wikipedia):

Tham khảo thêm trang web Wikipedia (tiếng Việt):
http://vi.wikipedia.org/wiki/Katakana

Chữ Katakana dùng để phiên âm tiếng nước ngoài (những chữ không có chữ kanji tương ứng) để khi đọc sẽ dễ hiểu hơn. Ví dụ:
ベトナム:Việt Nam
オーストラリア:Australia
コミュニケーション:Communication
インターネット:Internet
チョコレート:Chocolate (sô cô la)
Chữ Katakana dùng phiên âm tên riêng (tên địa danh, tên người) hay dùng phiên âm các thuật ngữ tiếng nước ngoài. Nếu viết bằng Hiragana thì sẽ rất khó hiểu vì người đọc sẽ tưởng đó là tiếng Nhật và cố suy diễn ra tiếng Nhật. Ví dụ nếu viết là:
おおすとらりあ、こみゅにけえしょん、いんたあなしょなる
thì sẽ khó đọc hơn rất nhiều nếu biết trước đó là từ mượn từ tiếng nước ngoài:
オーストラリア、コミュニケーション、インターナショナル


Chữ Katakana còn dùng để …
(1) Nhấn mạnh:
Chữ Katakana cũng như chữ viết hoa trong tiếng Việt, dùng để nhấn mạnh. Ví dụ:
Anh ta là KẺ LỪA ĐẢO.
彼はサギシです。(彼は詐欺師です。)


(2) Tên động vật:
Con người: ヒト(人)
Khỉ: サル(猿)
Vịt: カモ(鴨)
Vẹt: オウム(鸚鵡, anh vũ)
Nhiều tên động vật không thể dùng chữ hán tự (kanji) hay phải dùng chữ kanji quá phức tạp nên tiếng Nhật thường dùng chữ Katakana khi viết tên động vật.


(3) Tên thực vật:
Sắn: キャッサバ (cassava)
Điều: カシューナッツ (cashew nuts)
Mía: サトウキビ (砂糖黍)
Cao su: ゴムの木
Oải hương: ラベンダー
Bồ công anh: タンポポ(蒲公英, bồ công anh)
Bách hợp: ユリ(百合, bách hợp)
Cà chua: トマト
Khoai tây: ポテト
Sen: ハス(蓮)
Cà tím: ナス(茄子)

Các bạn học tốt cả 3 loại chữ Kanji, Hiragana, Katakana nhé.
(Chữ Hiragana và Katakana các bạn mới học có thể học từ hai đường link trang web Wikipedia ở trên.)

Nguồn: SAROMA JCLASS (saromalang.com)

Xem bài gốc.